Showing posts with label Bài Giảng của Sư Toại Khanh. Show all posts
Showing posts with label Bài Giảng của Sư Toại Khanh. Show all posts

Sunday, April 10, 2022

NGƯỜI BIẾT SỐNG MỘT MÌNH

 


Trong kinh thời Đức Phật có một vị Tỷ Kheo, thường ngày khi chư tăng đi bát, đi từ 15 vị, 20 vị có khi 100, 200 vị, còn vị này từ ngày thọ đại giới đi đâu cũng một mình, ngồi thiền, đi bát, đi tắm, đi sông, đi suối, đi sớm về khuya cũng một mình. Bạn bè rủ đi chung, vị này nhất định không đi. Có mấy vị sư bạn ngạc nhiên không biết anh em có gì làm sư buồn mà lúc nào cũng một mình. Vị kia nói : “không có gì, vì tôi nghe Đức Phật Ngài thường tán thán kiểu sống một mình nên tôi thích một mình chỉ vậy thôi.” 

CHÚNG TA RẤT CẦN ĐẾN SỰ HỖ TRỢ TỪ NHỮNG NGƯỜI BẠN LÀNH


Người lành ở đây là thầy là bạn, là những người có được chánh tín. Chánh tín là niềm tin có trí tuệ tin vào 3 điều sau: Tin lý nhân quả, tin nguyên tắc tam tướng, tin tác dụng của tứ niệm xứ (nếp sống có chánh niệm và trí tuệ).
-Giới Hạnh: Là thu thúc thân và khẩu, không nói hay làm những gì hại mình hại người.
-Đa Văn: Là lưu tâm các vấn đề giáo lý, vì thân người khó được, chánh pháp khó gặp, cơ hội học hỏi lời Phật rất hiếm hoi, hiểu được một tí thì đời ta thay đổi được một tí.
-Bố Thí : Là khả năng chia sẻ vật chất đến kẻ khác, do thương người và cũng do không muốn nắm níu chấp giữ sở hữu. Người biết đạo sẽ thấy cho vui hơn nhận, nhận chỉ được vui một lần nhưng cho thì vui nhiều lần. Nhận thì chỉ có ta vui, cho thì ta và người nhận đều vui.
 

VÒNG LUÂN HỒI THẬT ĐÁNG SỢ


Trong vòng sanh tử luân hồi, quãng thời gian sanh tử luân hồi nó dài dữ lắm, mà chỉ do nghiệp nhỏ xíu nào đó mình trở thành người nghèo.
-Do nghiệp bỏn xẻn trở thành người nghèo .
-Do nghiệp vu oan thì bị oan ức .
-Do nghiệp sát sanh hoặc hành hạ chúng sanh thì sẽ bị bệnh tật .
-Do nghiệp bê bối tình dục sẽ sanh làm thân nữ. (Làm thân nữ nhiều lý do chứ không phải một).

BẠN

 

 

Sư Giác Nguyên (giảng)

“Này các Tỷ-kheo, có đầy đủ ba đức tánh, một người bạn cần được thân cận. Thế nào là ba? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo cho điều khó cho, làm điều khó làm, nhẫn điều khó nhẫn. Này các Tỷ-kheo, đầy đủ ba đức tánh, một người bạn cần được thân cận.”
Hôm trước tôi có nói... mình với Phật không khác nhau nhiều là tôi dựa vào bài kinh này. Chư Phật chư Bồ tát là những người “cho cái khó cho - nhịn cái khó nhịn, làm cái khó làm” , vì thế nên “đắc được cái khó đắc , thấy được cái khó thấy”.

Friday, April 8, 2022

Cầu An Cầu Siêu

 

Thứ nhất là cầu siêu: Bởi vì thời Phật nghe ai mất là Phật biết họ đi đâu rồi, cầu là cầu cái gì? Họ đi với nghiệp của họ thì làm sao mà Ngài dành với nghiệp được.
Thứ hai là cầu an: Đã là bệnh nghiệp thì dầu có cầu cỡ nào nó cũng không hết. Nếu nó là cái bệnh tào lao, bệnh thời khí thì cứ cho nó uống đúng thầy đúng thuốc là tự nhiên nó hết thôi. Nếu đúng là bệnh do nhân hiện tại thì coi như ok. Còn mà do bệnh nghiệp, bệnh căn là thua. Ngay cả Đức Phật mà còn phải bị bệnh kiết lỵ trước khi mất. Ngài Xá Lợi Phất cũng phải Kiết Lỵ trước khi mất. Vô vàn những người khác như Vua Tịnh Phạn, công đức trùng điệp thì cũng phải bị bệnh chút đỉnh mới chịu chết, chứ đâu phải tự nhiên khơi khơi mà mất đâu. Nó phải có đảo chánh, nó phải có soán ngôi chứ đâu phải tự nhiên ngon lành rồi lăn ra chết sao mà được. 

Friday, March 25, 2022

DUYÊN

 

Trên đời này chúng ta gặp nhau là do duyên, nhưng gặp nhau làm gì, đó lại là cái duyên khác.
Gặp nhau để thành bạn hay gặp nhau để gây gỗ.
Gặp nhau để hại nhau hay gặp nhau để giúp nhau.
Giúp nhau kiểu nào và giúp nhau bao nhiêu.

Trong giáo lý A-Tỳ-Đàm có phần quan trọng mà tôi rất là tâm đắc. Đức Phật ngài dạy rằng : Trên đời này không có gì ngẫu nhiên mà biến mất mà cũng không có gì ngẫu nhiên mà có mặt.
Cái gì trên đời cũng do duyên mà có, mà bản thân nó cũng có thể tác động lên một cái khác.
Duyên ở đây có 2 nghĩa :
Duyên trợ lực và duyên trợ sinh
Duyên trợ lực : Có nghĩa là cái kia nó đã có rồi, cái này nó giúp cho mạnh thêm.
Duyên trợ sinh : Có nghĩa là cái này chưa có, mà cái kia nó trợ duyên mà cái này nó mới có.
Nhờ mẹ tạo ra, rồi nhờ ba nuôi. Như vậy mẹ là trợ sinh còn ba là trợ lực. Chưa hết ! Mình lớn lên bạn bè, thầy cô và xã hội, hàng xóm láng giềng thì đó cũng gọi là nguồn trợ lực.
Mọi sự ở đời này nó có cũng nhờ duyên mà nó mất cũng nhờ duyên. Chúng ta quen nhau cũng nhờ duyên mà chúng ta hại nhau hay giúp nhau cũng khó nói.

Wednesday, March 23, 2022

HỒI HƯỚNG

 

Hồi hướng quan trọng lắm, hồi hướng là tấm lòng của người hành thiện đối với vô lượng chúng sanh khác. Ta biết rằng ta có trong tay một món ăn thì ta phải sẵn lòng chia sẻ cho người khác; đó là vật thí, tài thí. Nhưng ta biết rằng ta đang có một công đức lớn và có vô lượng chúng sanh đang hướng về ta để cầu công đức, họ muốn lắm nhưng mà không có điều kiện để làm, họ đang chầu chực để chờ mình nhắc tới họ đó. Khi nghĩ tới họ, mình phát đại bi tâm, bèn hồi hướng đến vô lượng chúng sanh không phân biệt biên giới, thì công đức đó chẳng thể nghĩ bàn. Vì sao? Vì có biết bao nhiêu người trong chúng ta khi sống làm nghiệp này nghiệp nọ, nghiệp nặng thì đi địa ngục, bàng sanh súc sanh, còn không thì sanh làm A-tu-la, ngạ quỷ rất là tội nghiệp.

Tuesday, March 22, 2022

ĐỜI LÀ VẠN NGÀY SẦU

 
Tùy vào khuynh hướng tâm lý mà đường lối nhận thức cũng như kiểu tu hành của mỗi người không giống nhau. Chúng sanh trong đời có hai hạng, một hạng biết sợ sinh tử chán hiện hữu và một hạng thì muốn đời đời sống hoài. Từ khuynh hướng tâm lý này mới dẫn đến việc họ đi tìm đến tôn giáo nào có thiên đường. Chết là được lên thiên đường diện kiến nhan thánh Chúa. Còn thiên đường của bên Hồi giáo thì nghe khoái lắm, nếu sống đạo hết lòng, khi chết về trời thì mỗi người đàn ông sẽ được tưởng thưởng 47 cô tiên đẹp như mơ xinh như mộng. Trên đó có những dòng sông đầy ắp rượu ngon tùy khẩu vị của mỗi người. Dưới trần thích uống rượu gì thì khi lên trên cứ đưa cái ấm xuống dưới sông múc là có ngay rượu đó mà uống. Say sưa rồi lết ngược lên thảm cỏ, ngắm trời xanh mây trắng nắng vàng với 47 người đẹp bên cạnh tha hồ hưởng thụ.

Monday, March 21, 2022

Bố Thí



Nhiều người mặc cảm nói : “Con nghèo quá làm sao con bố thí “, hiểu như vậy là chết rồi.
Pháp bố thí không phải dành cho người giàu mà nó dành cho người có lòng, giàu mà không có lòng thì cũng vứt đi, còn nghèo mà có lòng thì cũng ok. Mình nghèo mà mình có lòng có trái chuối, củ khoai, trái cà, trái ớt cũng sẵn lòng chia sẻ. 

Thursday, March 17, 2022

Kinh Cái Cưa

 

Video giảng giải Kinh ví dụ cái cưa của Sư Toại Khanh: https://www.youtube.com/watch?v=D883ITYBOt4
 
- Ghi chép lại bài giảng Sư Toại Khanh - Kinh ví dụ cái cưa: https://toaikhanh.com/videotext.php?vid=D883ITYBOt4...
---

 

LỐI MÒN

Dòng luân hồi này dựng lên bởi những con người đi theo lối mòn. Xã hội quy định như vậy, gia đình, dòng tộc, thế giới này, hành tinh này, toàn thể nhân loại này, chung quanh mình ai cũng như vậy, bây giờ mình sống ngược lại không giống ai thì thấy hình như suy nghĩ của mình có vấn đề. Nghĩ như vậy là họ lạnh xương sống, thế là họ lập tức quay trở lại với tâm lý bầy đàn. Tâm lý bầy đàn này chính là tâm thức sinh tử. Nếu thế giới này không có gì để thích thì làm sao có chuyện trầm luân, mà nếu thế giới này không có bề trái làm sao có người chán nó mà lìa bỏ. Nếu không có giây phút tỉnh táo nhìn lại làm gì có sự lìa bỏ, nếu không có sự lìa bỏ làm gì có giải thoát.

Nguyên Nhân Thích Ghét

 Tôi muốn nói đi nói lại một điều, ngay bây giờ các vị thấy không cần, nhưng một ngày nào đó tóc bạc nhiều hơn các vị sẽ thấy thấm, đó là toàn bộ những gì mình thích, mình mê, mình thương trong cuộc đời này nó vô nghĩa, ngây ngô, trẻ con, không tưởng nỗi, bởi vì động cơ, nguyên nhân, lý do, cơ sở, nền tảng dẫn đến mình thích hay ghét cái gì đó là do: 

DỄ THƯƠNG VÀ ĐÁNG THƯƠNG (Đạo lộ vô sân)

 

Sống ở đời này chúng ta có người để mình thương thì dứt khoát có người để mình ghét.
Tất thảy chúng sanh trong đời này chia làm hai hạng, hạng để chúng sanh phàm phu thương và hạng để mình ghét. Có hạng thứ ba tôi không kể, đó là người dưng nước lã, hạng này nằm trong diện trừ bị. Họ là người dưng hôm nay nhưng ngày mai chỉ cần có một điều kiện nào đó thì mình sẽ thương họ hoặc mình sẽ ghét họ, cho nên ở đây chỉ kể hai. Hạng thứ ba này là hạng trừ bị, nghĩa là họ sẵn sàng thuộc về nhóm 1 hoặc nhóm 2.
Để sống an lạc giữa đời này thì người trí (người tu hành cầu giải thoát) tuyệt đối không để mình ở vào thái cực nào trong tình cảm.
Thương người, yêu người, thích người, thù người, hận người, cũng là một cực đoan tâm lý, một cực đoan tình cảm.
Phúc thay cho kẻ nào sống giữa đời này chỉ có thể thương người khác nhưng không có nặng lòng vì người khác. Phúc thay cho kẻ nào sống ở đời này có người mình không thấy hợp nhưng không vì chuyện không hợp đó mà mình lại ghét, không để cho cái ghét, cái ác cảm, cái thành kiến đó trở thành gánh nặng tâm lý của mình.
Như vậy thì, để sống lìa bỏ hai cực đoan tình cảm ghét và thương thì tất cả chúng ta bắt buộc phải tu tập 4 Vô lượng tâm:
-Từ: mong cho người ta có được nhân lành quả lành.
-Bi: mong cho người ta đừng sống trong nhân xấu quả xấu
-Hỷ: vui với nhân lành quả lành của người
-Xả: luôn luôn sống trong nhận thức rõ ràng đầy đủ rằng tất cả những người chúng ta thương tất cả những người chúng ta ghét, kể cả những người chúng ta không có tình cảm đặc biệt nổi trội, tất thảy đều có vốn liếng nghiệp riêng.
Ví dụ như người đó mình khinh ghét họ cách mấy đi nữa thì họ cũng có cái nghiệp riêng của họ, mai chiều họ cũng lăn đùng ra chết. Mình kính phục, mình thần tượng người đó thì cũng có thể mai chiều họ lăn đùng ra chết.
Chư Phật ba đời mười phương là đỉnh cao của danh vọng vũ trụ này, không có ai trong đời này kể cả vua Chuyển Luân Vương, Ác Ma Thiên Tử, Đế Thích, Phạm thiên mà có được sự thương quý kính nể của vô lượng chúng sanh như chư Phật, ấy vậy mà cái gì rồi cũng phải qua đi.
Tình cảm nào trên đời này thì cũng có lúc qua đi, nó qua đi bằng nhiều cách:
- Người thương mình hay người ghét mình chết.
- Đối tượng mình thương hay ghét chết.
- Cả hai phía đều lăn đùng ra chết.
- Vì duyên nào đó mà cái thương phai mờ, cái hận giảm đi.
Như vậy cái thương ghét ở đời này không quan trọng vì kẻ được thương hay kẻ bị ghét sớm muộn gì cũng chết. Bản thân người thương hay ghét người khác sớm muộn gì cũng lăn ra mà chết. Bản thân tình cảm đó theo ngày dài tháng rộng sớm muộn gì cũng bị thử thách bởi vô vàn trở ngại, trở lực, bị tác động bởi vô vàn những điều kiện này nọ để rồi không tiếp tục còn nữa. Xúc động nhất là khi tôi đọc trong kinh chỗ Devādatta trước lúc lìa đời, chắp tay hướng về Phật và nói câu kệ này:
- Con xin đảnh lễ Đấng Tối thắng tôn, Ngài có lòng đại bi xem Rāhula hay kẻ hại Ngài như là một.
Với câu nói này, Devādatta đã khép lại trang huyết sử hận thù giữa ông và Bồ tát Tất Đạt sau vô lượng kiếp. Và kiếp cuối cùng khi Bồ tát Tất Đạt trở thành một vị Phật rồi mà Devādatta vẫn tiếp tục hại. Nhưng chúng ta biết rằng chung cuộc thì Devādatta đã không được toại nguyện và đã ra đi bằng một cái chết không đẹp, không êm ái.
Như vậy, sống ở đời, cái khổ của chúng ta là chúng ta chìm sâu trong một cực đoan tình cảm nào đó như ghét hoặc thương. Để sống an lạc chúng ta cứ tâm niệm rằng trên đời này không có ai để ghét cũng không có ai để yêu. Trên đời này chỉ có hai hạng người thôi, đó là người đáng thương và người dễ thương. Người lành là người dễ thương. Người xấu là người đáng thương. Để sống được trong nhận thức này, trong tình cảm này đối với muôn loài chúng sanh thì bắt buộc chúng ta phải sống trong:
từ -- bi -- Hỷ --xả
Trích bài giảng Kinh Tăng Chi -Tập 5
***Sư Giác Nguyên ***

Wednesday, March 16, 2022

Vô Thường

 

Muốn hết khổ thì phải hiểu khổ, khi hiểu được khổ rồi thì không còn tiếp tục thích thú trong nó nữa.
Đời sống của người không tu tập là những ngày tháng trốn khổ tìm vui trong KHỔ và sự hành trì TAM HỌC chính là hành trình chán sợ khổ. Mà khi đã chán sợ rồi thì không còn tha thiết đầu tư. Không có Tập Đế thì làm gì có Khổ Đế, và con đường dẫn đến sự lìa bỏ Tập Đế chính là Đạo Đế.
Để quan sát được 3 đặc tính VÔ THƯỜNG - KHỔ - VÔ NGÃ của vạn vật bên ngoài, thì trước hết hành giả phải quan sát thân tâm chính mình từ những cảm giác buồn vui, thiện ác, thương thích, ghét sợ.... qua từng phút giây sống trong từng hoạt động lớn nhỏ như: đi, đứng, nằm, ngồi, co, duỗi, cầm, buông, nhúc nhích, xê dịch và rốt ráo nhất là qua từng hơi thở ra vào. Bản chất đặc tính VÔ THƯỜNG luôn có sẵn ở đó, ta cứ nhìn thì sẽ thấy. Không chịu nhìn thì làm sao thấy và cứ đời này sang kiếp khác sống trong ảo tưởng, trong niềm hy vọng về sự bền vững, trường cửu mà thực ra không bao giờ có thật ở đời.
Với nhận thức về sự VÔ THƯỜNG của vạn hữu, lợi ích đầu tiên là hành giả sẽ bỏ dần những nghi hoặc cùng những bận tâm về cái gọi là TÔI, CỦA TÔI, THIÊN HẠ, CỦA THIÊN HẠ qua thái độ sống trong sáng và lành mạnh, không trốn chạy cũng không tìm kiếm bất cứ thứ gì ở đời.
Làm được như vậy thì dầu chưa là Thánh thì phàm phu nào chắc chắn cũng được sống an lạc hiện tiền. Có an lạc thì mới có định, có định thì tuệ càng thêm vững mạnh. Tuệ càng mạnh thì sự an lạc càng lớn... Cứ như vậy, định hỗ trợ cho tuệ và ngược lại. Đó chính là hành trình Chỉ Quán song tu.
Khi thấy được sự hiện hữu của mình chỉ diễn ra trong từng phút giây sanh diệt của DANH SẮC là cả một sự mệt mỏi và tẻ nhạt thì người ta mới có ý hướng thiết tha nhắm đến sự giải thoát. Thánh trí không thể xuất hiện ở một người còn đang mơ hồ về bản chất của sự hiện hữu. Có biết rõ mình là gì và đang ra sao thì người ta mới có thể chán sợ và ly tham, rồi từ đó chứng thánh.
Sư Giác Nguyên (giảng)
(/) Nhóm ghi chép: ÁNH SÁNG ĐẠO VÀ ĐỜI.
#anhsangdaovadoi | #herenow.
Nguyện cho tất cả chúng sanh luôn tràn đầy tình thương, không oan trái lẫn nhau, thoát khổ thân tâm, luôn được nhiều an lành

Tuesday, March 15, 2022

TRẠCH PHÁP GIÁC CHI

 

 

Trạch pháp ở đây là sao?

Trong từng giây phút mình chánh niệm, hít thở vào ra biết rõ, đi đứng nằm ngồi biết rõ.
Trong giây phút đó, mình đồng thời biết thêm chuyện nữa:
Tâm tham đang có mặt, tâm sân đang có mặt, mình biết cái này có hại, cái này có lợi, cái này là thiện pháp, cái này là bất thiện pháp, biết rõ. Biết, biết. biết cái này cần phát triển, cái này cần loại trừ. Cái biết đó được gọi là Trạch pháp giác chi.
Giờ các vị bắt đầu thấy nó quan trọng rồi đó.
*** Thất giác chi đầu tiên vô là tỉnh thức, biết mình trước cái đã.
*** Thứ hai là biết phân biệt, Vijjaya = Biết phân biệt cái này thiện, cái này bất thiện, cái này phải loại trừ liền, cái này là bủn xỉn nè, cái này là ganh tỵ nè. Cái này là tham thích, cái này là bất mãn,
Phải có cái trí. Trí ở đâu nó ra?
Trí do 3 nguồn: văn, tư, tu.
-Văn, đầu tiên là phải do học giáo lý, chứ còn không chịu học giáo lý khó lắm. Bởi vì tôi đã có dịp tiếp xúc với rất nhiều Phật tử, khi không học giáo lý lúc tu tập không biết cái gì thiện cái gì bất thiện, họ không biết.
Thí dụ, trời nóng mình khó chịu họ hiểu là chuyện đương nhiên.
Trong kinh nói, không, cái khó chịu, bực bội đó là tâm sân. Họ chỉ hiểu chữ Sân là hờn giận, căm ghét, nóng nảy, ý hướng bạo hành, bạo lực, bạo động,… họ mới gọi đó là sân. Nhưng trong giáo lý mình đâu định nghĩa kỳ cục vậy.
Sân đó là sân thô rồi, cái mà mình hiểu đó là sân thô.
Còn sân tế, ngay lúc mình nóng nực, khó chịu, mình ăn ngon cắn nhầm lưỡi đó là tâm sân, mình cắn nhầm ớt khó chịu đó là sân, mình đang ăn ngon lành mà nghe cái đùng giật mình đó là sân,…. Sợ cũng là sân, giận cũng là sân, bất mãn, khó chịu… cũng là sân. Phải học mới biết.
Rồi cái Ganh tỵ, bủn xỉn mình không học mình không biết.
Có người họ không học họ thắc mắc chỗ này: Của tôi thì tôi phải giữ lại tôi xài mắc gì tôi cho, cái đó sao gọi là bỏn xẻn được. Nhưng người có học họ biết, cái này là bỏn xẻn. Bởi vì, thí dụ mình đi tu thiền bên Miến Điện, hành lý mình đâu có nhiều, một cục xà bông tắm thôi, có một tuýp kem chống nắng bằng ngón chân cái vậy đó, rồi cái gì cũng chút chút, thuốc cảm thì mình đem theo một hộp đủ xài, bàn chải đem theo chừng vỉ thôi, đâu đem theo nhiều, cái gì cũng chút chút, bây giờ mình qua tới nơi bạn tu của mình bị, mình tính đem ra mình cho, nhưng mình nghĩ bụng “mình cho mốt lấy gì xài?!”. Họ nghĩ suy nghĩ đó là hợp lý, suy nghĩ đó là đúng.
Giờ hỏi 7 tỷ người trên thế giới suy nghĩ đó đúng không? Mình đi mình không đem theo nhiều, mình đem theo có tý à, rồi giờ mình đem cho người khác, mình lấy gì mình xài. Suy nghĩ đó quá hợp lý đúng không? Nhưng người hành giả có trí, có trạch pháp họ biết, đây là bủn xỉn.
Bây giờ tôi giải thích tại sao lại bủn xỉn. Thử tưởng tượng đi, mình gặp người thân, người máu mủ hoặc người thương, mình quý, mình kính thì mình có toan tính nhiều vậy không? Mình có toan tính là mình đem theo không bao nhiêu, mình phải giữ lại mình xài ? Không. Nhưng đặc biệt người kia họ không phải đối tượng mình thương kính mình mới bắt đầu toan tính.
Lắt léo nó nằm ngay chỗ đó đó. Mà mình không biết đó là bủn xỉn. Thấy chưa?
Ganh tỵ.
Mình thấy cả trăm hành giả mà mỗi lần gặp bà kia mình không thích, vì bả trẻ hơn mình, bả đẹp hơn mình. Mà mình tự giải thích, cái đó không phải ganh tỵ, tại vì bả nói nhiều tôi khó chịu, bả có tánh hay khoe tôi khó chịu, bả hay la cà với mấy hành giả khác tôi khó chịu, bả có vẻ thân mật thiền sư tôi khó chịu, tôi khó chịu vì bả không có nết. Tôi đâu phải ganh tỵ đâu? Tại tôi ghét cái nét xấu của bả. Thật ra đó là ganh tỵ. Bởi vì, chỉ cần bả già chút, bả xấu chút, bả mập chút bả ốm chút, bả đen chút, bả nghèo chút là mình đâu có khó chịu, mà tại vì đằng này, bả đẹp tí, bả trẻ hơn mình một tí, hình như có vẻ hơi có tiền tí, bả ăn nói hơi dễ thương tí, bả hơi được lòng người chung quanh tí, mình thấy thiền sư hơi chú ý bả tí, mấy cái tí tí tí đó làm mình khó chịu. Mà mình không có ngờ đó là ganh tỵ mà mình cứ nói là tôi ghét nét xấu củ bả.
Cho nên, Trạch pháp giác chi là sao?
***    Là biết rất rõ, cái gì thiện bất thiện, biết cái gì là ái, là từ tâm, người không học không biết cái đó.
***   Trạch pháp nó không có. Mình không phân biệt được lúc nào là từ tâm lúc nào là tham ái. Có nhiều người mình nhìn họ mình thương liền, nhưng người có trí tuệ họ biết thương này là tham ái hay là từ tâm. Nó khác nhau.
***  Từ tâm là sao?
Từ tâm là trong sáng, nhẹ nhàng, không câu móc. Thí dụ mình gặp ai cũng thoải mái thanh thản, nhưng gặp mặt thì mình mát mẻ mình không có lòng hờn giận căm ghét ai, thấy người ta vui vẻ, khỏe mạnh, tu tập tiến bộ mình mong người ta được vậy hoài không mất.
Sau khi chia tay rồi,
***   Trong sáng là sao ? là mình không có gợn đục của tình cảm riêng tư.
***   Nhẹ nhàng có nghĩa là sao ? Có nghĩa là họ không là gánh nặng trong lòng mình, họ được như mình muốn thì mình vui, mình tùy hỷ, còn họ không được thì thôi, mình không lấy làm nặng lòng.
***     Còn câu móc là sao ? Là có cái gì riêng tư, móc riêng trong đó. Đó là Từ tâm.
***    Ái là sao ? Ái là cũng thích, cũng thương mà nó nặng lắm quý vị. Mình thương người ta mình muốn sở hữu, muốn sống gần người ta, khi người ta không được như mình nghĩ mình nặng nề. Và cái thương đó gắn liền quyền lợi, cảm xúc của mình.
Tôi ví dụ chuyện đơn giản thôi. -Tôi vào trong thiền viện, có 2 cô một cô tôi đối xử bằng tâm từ, thấy cổ biết tu hành, thấy xa quê, tu nữ cũng nghèo, tội nghiệp, hoặc Phật tử đi, tóc tai đầy đủ, mình thấy tội nghiệp. Thấy không biết gì hết trơn tội nghiệp, thấy giúp được gì tôi giúp. Sau khi hết thấy mặt cổ rồi tôi về phòng tôi quên mất tiêu, tôi lo chuyện của tôi. Rồi mai chiều hôm sớm tình cờ gặp nhau ở đâu tôi giúp được gì tôi giúp, trở về tôi quên mất tiêu là từ tâm.
-Còn ái, nghe nè, ái nè. Tôi gặp bả tôi khoái. Tại sao tôi khoái ? Tôi khoái ánh mắt của bả, tôi khoái nụ cười, giọng nói, cái dáng, cái bóng sắc, sắc vóc của bả. Tôi mong được gặp nữa, khi không gặp tôi hơi nhớ nhớ. Và mai này tôi thấy bả thân người khác tôi khó chịu, nói nôm na là tôi ghen. Và bả trở thành gánh nặng trong lòng tôi. Trong khi, nếu tôi thương bả bằng lòng từ thì nó nhẹ lắm. Gặp, cần thì giúp, không cần thì thôi. Khi bả khuất mắt là lòng tôi cực kỳ thanh thản nhẹ nhàng. Đó là từ đó. Còn ái là thích nhưng muốn ở gần người ta, muốn sở hữu người ta, muốn người ta thích trở lại mình, mình muốn người ta đừng nghĩ tới ai. ..
***   Trạch pháp, đó là Trạch pháp giác chi. Nhớ nha. Và biết rõ, cái này có hại cho chuyện tu tập của mình, cái này có hại cho chánh niệm của mình, cái này có hại cho định của mình, cái này có hại cho tuệ của mình, cái này có hại cho niềm tin của mình, cái này có hại cho sự tinh tấn của mình, cái này có hại cho tàm quý của mình. Biết rõ như vậy là Trạch pháp giác chi.
Trích bài giảng Kinh Ngọn Lửa
***Sư Toại Khanh ***
Nguồn: Diệu Trí

NÓI GÌ VỚI NGƯỜI SẮP MẤT ( BÀI KINH CẦU SIÊU)

 

 

Một trong pháp Cầu siêu hay nhất của Phật Giáo nguyên thủy, do chính Đức Phật Thích Ca Mâu Ni bày ra.
Ngài dạy cho mình, rất tiếc ngày nay, tôi không hề được nghe ở những buổi Cầu siêu.

Mặc dầu Đức Phật không bao giờ Ngài chủ trương Cầu siêu, nhưng mà thật ra Ngài có hướng dẫn người ta cầu siêu rất hay!
Mà tôi rất thấy làm lạ: Phật tử Việt Nam không hề biết đến chuyện đó.
Ngài có một người bà con là người chú họ đến hỏi Ngài:
- Bạch Thế Tôn, nếu mà phải chăm sóc một người thân lúc sắp chết thì chúng con phải làm gì cho đúng tinh thần của một Phật tử, tinh thần Chánh Pháp ?
Đức Phật dạy hãy đến bên cha mẹ, người thân và nói thế này :
- Việc nhà đã có người lo.
Chết không phải là kết thúc mà nó là sự bắt đầu.
Cái tấm thân này chỉ là một chén đất đã mẻ, cũ.
Người có công đức, bỏ nó đi để kiếm một cái bát bằng vàng ở chỗ khác.
Nó bây giờ đã già và đã xấu, nó đã đau đớn, nó đã nhăn nheo thế này mà tiếc gì nữa!
Tại sao không nghĩ đến một chỗ khác tốt hơn.
Cõi nhân loại này mệt mỏi lắm.
Hãy nghĩ đến các cõi trời: Ở đó không có đau, không có bệnh, không có hờn giận, không có sợ hãi, không có đấu tranh, không có máu lệ, có điều kiện tu học tốt hơn.
Nhưng hễ còn tái sanh thì còn khổ.
Ở cõi nào đi nữa thì cũng có lúc quay về chỗ khổ nhất.
Cho nên hãy nghĩ đến Tam tướng, nghĩ đến sự lìa bỏ cái ngũ uẩn để đừng có tái sanh nữa.
Đừng mong đợi tái sanh nữa mà hãy tác ý đến Niết-bàn.
Nếu các vị hỏi tôi: Hộ niệm cho mẹ tôi, tôi phải làm sao ?
Tôi nói rõ, tôi sẽ hỏi mẹ tôi trước, (nếu mẹ mê rồi thì thôi không nói) nhưng nếu mẹ còn tỉnh tôi sẽ hỏi :
- Mẹ muốn nghe gì hay là nằm nghỉ.
Mẹ giữ chánh niệm, thở ra biết thở ra, thở vào biết thở vào.
Đừng nghĩ gì hết; hít sâu, thở chậm; hít sâu, thở chậm.
Còn nếu mẹ tôi muốn nghe thì tôi sẽ hỏi thêm :
- Mẹ muốn nghe nói hay là mẹ muốn nghe tụng.
Nếu mẹ muốn nghe tụng thì con sẽ mời quí Sư tụng, còn mẹ muốn nghe nói thì mẹ muốn nghe ai nói.
Nghe con nói hay người khác nói.
Nếu mẹ tôi nói: Sư nói đi, thì tôi sẽ nói rất gọn :
- Mẹ do nghiệp ảo ảnh mà đến đời này, rồi bây giờ cũng do nghiệp ảo ảnh mà đi.
Đã nói ảo ảnh thì không có gì sợ, không có gì tiếc nhớ.
Mẹ nhớ bây giờ mẹ bình tỉnh là đi ngon lành nhất, con đường thiện chỉ dành cho người tỉnh thức.
Bây giờ mẹ nằm nghỉ một chút.
Bàn tay đây mẹ cầm đi; hít sâu, thở chậm, không có gì sợ hết.
Đang bỏ đồ cũ, đang dọn về nhà mới; lúc nào cũng kế bên để cho mẹ đi.
Đó là cách mà hộ niệm cho người hấp hối rất là tốt.
Mà khổ một nổi là ngày nay mình không nói cho người bệnh hiểu, mà mình khoái tụng cho người bệnh nghe!
Hai cái này khác nhau phải không ?
Nói cho họ hiểu, nó khác; còn tụng cho họ nghe, nó khác.
Người ta đang ngáp ngáp mà mà lại tụng ê a Pali không hiểu mà ồn thêm.
Mà tôi còn biết nhiều cái đám, bố mẹ đang nằm ngáp ngáp mà con cái bu lại khóc lóc.
Các vị biết khi mà ra đi trong tiếng khóc của người thân là mình bị hoảng loạn cũng có, mình tiếc thương.
Người ra đi không đành thì không có nên.
Mình biết Đạo không có hành động kỳ cục như vậy!
Mình phải giúp cho họ ra đi thanh thản.
Cho nên có nhiều cách để chúng ta giúp nhau.
Nhưng mà cách tốt nhất là giúp nhau sống buông bỏ và giúp nhau chết thanh thản thoải mái. Đó là điều tôi muốn nhắc nhở.
Sư Toại Khanh
(Chép lại bài giảng của Sư)
Nguồn Simsapa.

Tuesday, March 8, 2022

CẦU NGUYỆN, CẦU AN.


Kinh này (Nakulapitusutta) hay vô cùng tận. Ai trong room này đến giờ này mà còn có đủ đôi đủ cặp, có vợ có chồng, có bạn trai bạn gái, còn thấy mình còn có người bên cạnh để mà xẻ chia trao đổi, trao trút thì nên coi bài kinh này như là thánh kinh.
Trong hàng đệ tử cư sĩ hàng đầu của Đức Phật, có một vị tên là Nakulapita. Ông có người con tên là Nakula cho nên người ta gọi ông là Nakulapita (tức là cha của Nakula) và gọi vợ ông là Nakulamata (mẹ của Nakula) giống như mình hay gọi “má thằng Tý”, “ba thằng Tèo” vậy.
Đây là cặp vợ chồng mà Đức Phật tuyên dương. Ba đời chư Phật đều có một cặp đệ tử giống như vậy; đó là Đệ nhất thủy chung (vissāsa). ‘Vissāsa’ có nghĩa là ‘thân tình’, ‘thân ái’ mà cũng có nghĩa là ‘thủy chung’.
Hiếm trên đời có cặp nào mà nhiều trăm nhiều ngàn kiếp sóng đôi bên nhau như vậy. Tay không rời tay, tim không khác nhịp đập, lòng không ngừng nghỉ về nhau, và chưa từng ngoại tình ngay cả trong tư tưởng. Không thể dễ kiếm như vậy. Làm gì có cặp mà lòng cứ đau đáu nghĩ về nhau từ trong mơ cho đến lúc thức dậy trong nhiều ngàn kiếp như vậy. Vì vậy nên họ được Đức Phật tuyên dương là Đệ nhất chung tình. Quí vị sẽ hỏi, tại sao đạo Phật là xả ly, là buông bỏ, sao lại có đệ nhất chung tình? Xin thưa, chung tình có hai nghĩa:
-Lòng gắn bó khắng khít, đắm đuối ghim chặt cuộc tình nam nữ với ai đó
-Không ‘ăn tạp’. Một trong hai mà chết thì kẻ còn lại dồn sức để tu.
Nếu chúng ta đơn giản trong ăn mặc, trong yêu, trong ở thì chúng ta khỏe lắm. Đằng này, chúng ta đang ăn món này mà nghĩ đến món khác; chúng ta đang ở cái nhà này mà cái đầu còn nghĩ đến cái nhà khác; đang xài cái xe này mà còn nghĩ đến cái xe khác, chồng vợ còn sờ sờ mà trong mơ đã ngoại tình tư tưởng. Chúng ta khổ là chỗ đó, và chúng ta mất rất nhiều thời gian cho cái trước mặt, cái đã qua, cái sắp tới. Chữ chung tình ở đây là nói kẻ này gọn lắm, chỉ ăn một thứ thôi. Không có rối, không có đa dục. Ngài khen là khen chỗ đó, chứ không khen chỗ ghim sâu gắm chặt vào tình cảm.
Ông Nakulapita bị trọng bệnh. Cả hai vợ chồng đều là thánh A-na-hàm. Dĩ nhiên họ có con trước khi đắc thánh, chứ A-na-hàm thì không còn dục ái, không có nhu cầu tình cảm nam nữ, chỉ còn tình bạn mà thôi. Thêm nữa nhiều đời họ gắn bó nhau coi nhau như một. Theo bản kinh tiếng Việt của ngài Minh Châu, chúng ta thấy người chồng sắp mất, người vợ trấn an. Vợ an ủi để người ra đi được thanh thản. Nhưng trong Chú giải cho chúng ta biết một chi tiết rất đặc biệt, rất thú vị ẩn đằng sau chánh kinh. Bài kinh này có những nội dung rất là quan trọng:
 
1. Tuyên dương, nêu bật nội dung tu chứng của một người cư sĩ đệ tử Phật.
Bà mẹ của Nakula nói: “Ông nghĩ đi, ông đừng nghĩ rằng khi ông chết thì tôi sẽ thiếu trách nhiệm với gia đình, ông đừng nghĩ rằng khi ông chết rồi tôi sẽ có người khác, ông đừng nghĩ rằng khi ông chết rồi tôi không có khả năng tự sống, ông đừng nghĩ rằng khi ông chết rồi tôi sẽ lìa xa Tam bảo v.v...” 
 
2. Theo Chú giải, bài kinh này không chỉ đơn giản là an ủi người sắp ra đi mà còn là bài kinh Cầu An.
Cầu an theo Phật Giáo Nguyên Thủy có 2 cách :
-Cách 1: Dùng tín tâm của mình để suy tưởng đến một đối tượng cụ thể hay trừu tượng nào đó. Rồi dùng sức mạnh gia trì này hướng tới đối tượng đang được cầu an.
Ví dụ mình niệm ân đức Tam Bảo hay niệm Thí, Giới, Thiên, niệm tưởng công đức tu hành bố thí v.v...
-Cách 2: Phát nguyện chơn ngôn. Vận dụng sức mạnh ngay trong bản thân mình
Đây là cách bà mẹ của Nakula xài, trong chỗ này mà tôi e rằng Phật tử Việt Nam không mấy người biết. Phát Nguyện Chơn Ngôn là nói ra một sự thật mà mình phải tin chắc tuyệt đối 100%.
Ví dụ như mình nói rằng: “Con một lòng tin Phật, con tin chắc Thế Tôn là người đã có thật ở đời, Ngài là người thật sự chấm dứt phiền não, Ngài đã để lại một giáo pháp có công năng chấm dứt phiền não, chấm dứt sanh tử cho chúng sanh. Con tin tưởng nơi Ngài, nơi Giáo Pháp và chư Tăng một cách triệt để, một cách tuyệt đối. Nếu lời tuyên bố này là sự thật thì xin cho sức mạnh của sự thật đó giúp cho má con giảm bệnh tật, ba con giảm được đau đớn, xin cho tai nạn này sớm qua đi…”
Mình phải phát nguyện điều gì đó sự thật mà phải có ý nghĩa tâm linh tinh thần, chứ còn như “con tin chắc con có 10 ngón tay, 10 ngón chân, đó là một sự thật mà con tin chắc, mong rằng với sự thật này mà con hết bịnh”, thì đó cũng là sự thật nhưng nó không có ý nghĩa tâm linh.
Hoặc là: “Con không giữ tròn 5 giới, nhưng riêng giới trộm cắp và giới uống rượu thì trong 40 năm qua con chưa từng vi phạm. Do sự thật này nguyện cho con được…v.v..”, thí dụ như vậy.
Mình dù có bê bối vẫn có thể phát nguyện được. Đứng trước hoàn cảnh ngặt nghèo, mình cũng có thể nói: “Trong 30 năm làm cư sĩ, năm giới con giữ tròn giới thứ nhất, thứ hai và thứ năm, con chưa bao giờ cố ý vi phạm. Xin với sự thật này, với chân ngôn này, xin cho ba má con, vợ con… của con được ok.” Khi mình dốc lòng tin thì lúc đó niềm tin của mình mới mãnh liệt.
Nhiều người họ nghĩ đến cái gì phải ghê gớm kiểu như Tam Bảo thì họ mới có đức tin cuồn cuộn. Nhưng có những người họ nghĩ Tam Bảo là cái gì đó rất xa vời mà họ phải nghĩ tới cái gì cụ thể ở chính họ. Đây là lý do vì đâu có hai cách cầu an. Nghĩ đến đối tượng nào đó bên ngoài, hoặc vận dụng sức mạnh ngay trong bản thân. Có nhiều người thì đối tượng bên ngoài không ép phê, nhưng với bản thân họ thì niềm tin cuồn cuộn mãnh liệt. Họ biết chắc rằng 40 năm làm cư sĩ đúng là họ chưa từng cố ý làm chuyện đó, họ “mong với sự thật này thì giúp cho họ vượt qua khổ nạn v.v...”
Trên quốc huy, trên tiền hay trên những con tem của Ấn Độ, hay có câu “Satyameva Jayate” tiếng Sanskrit: सत्यमेवजयते, tiếng Đức là “Wahrheit über alle” nghĩa là “Chân lý chiến thắng tất cả” hay “Sự thật là trên hết”. Không có cái gì trên đời này qua được sự thật. Bà con nào ghiền xăm hay muốn thêu trên áo thì nhờ ai viết thư pháp cho đẹp thêu câu này, đi chùa mặc cái áo này cho sang, mà người Ấn Độ gặp mình họ cũng khoái. Eva nghĩa là ‘duy chỉ’ (only, even), duy chỉ có sự thật là chiến thắng tất cả.
Bài kinh này thứ nhất là tuyên xưng nội dung tu hành, thứ hai là cầu an bằng phát nguyện chân ngôn. Bà mẹ của Nakula phát nguyện chân ngôn. Bà nói đó là những sự thật. Sự thật gì? (Tôi đang giảng theo Chú giải).
 
(1) Hãy ra đi đừng luyến lưu gì hết, hãy yên tâm tôi có thể lo cho gia đình. (Bà biết chắc rằng bà có thể làm được điều này. )
“Thưa Gia chủ, chớ có mạng chung với tâm còn mong cầu ái luyến. Thưa Gia chủ, đau khổ là người khi mệnh chung tâm còn mong cầu ái luyến. Thế Tôn quở trách người khi mệnh chung còn mong cầu ái luyến. Thưa Gia chủ, Gia chủ có thể suy nghĩ: "Nữ gia chủ, mẹ của Nakula, sau khi ta mệnh chung, không có thể nuôi dưỡng các con và duy trì nhà cửa". Thưa Gia chủ, chớ có nghĩ như vậy! Thưa Gia chủ, tôi khéo léo dệt vải và chải lông cừu. Thưa Gia chủ, sau khi Gia chủ mệnh chung, tôi có thể nuôi dưỡng các con và duy trì nhà cửa. Do vậy, thưa Gia chủ, chớ có mệnh chung với tâm còn mong cầu ái luyến! Ðau khổ, này Gia chủ, là người khi mệnh chung tâm còn mong cầu ái luyến. Thế Tôn quở trách người khi mệnh chung tâm còn mong cầu ái luyến.”
 
(2) Tôi sẽ không có đi bước nữa. Mười sáu năm qua ông biết tôi mà.
“Thưa Gia chủ, Gia chủ có thể suy nghĩ như sau: "Nữ Gia chủ, mẹ của Nakula, sau khi ta mệnh chung, sẽ đi đến một gia đình khác". Thưa Gia chủ, chớ có suy nghĩ như vậy! Thưa Gia chủ, Gia chủ cũng đã biết, trong mười sáu năm chúng ta sống làm người gia chủ, tôi đã sống thực hành Phạm hạnh như thế nào. Do vậy, thưa Gia chủ, chớ có mệnh chung với tâm còn mong cầu ái luyến! Ðau khổ, thưa Gia chủ, là người khi mệnh chung còn mong cầu ái luyến. Thế Tôn quở trách người khi mệnh chung còn mong cầu ái luyến.”
 
(3) Ông có thể nghĩ rằng tôi sẽ lìa bỏ Tam Bảo. Không đâu, trời có sập cũng không.
“Thưa Gia chủ, Gia chủ có thể suy nghĩ như sau: "Nữ gia chủ, mẹ của Nakula, sau khi ta mệnh chung, sẽ không còn muốn yết kiến Thế Tôn, sẽ không còn muốn yết kiến chúng Tăng". Thưa Gia chủ, chớ có suy nghĩ như vậy! Sau khi gia chủ mệnh chung, tôi sẽ muốn yết kiến Thế Tôn nhiều hơn, sẽ muốn yết kiến chúng Tăng nhiều hơn. Do vậy, thưa Gia chủ, chớ có mệnh chung với tâm còn mong cầu ái luyến! Ðau khổ, này Gia chủ, là người khi mệnh chung, còn mong cầu ái luyến. Thế Tôn quở trách người khi mệnh chung tâm còn mong cầu ái luyến.”
 
(4) Ông nghĩ rằng sau khi ông đi rồi tôi sẽ không còn đức hạnh. Không, tôi vẫn như thuở nào. Vẫn giữ gìn giới hạnh.
“Thưa Gia chủ, Gia chủ có thể suy nghĩ như sau: "Nữ gia chủ, mẹ của Nakula, sau khi ta mệnh chung, sẽ không giữ giới một cách đầy đủ". Thưa Gia chủ, chớ có suy nghĩ như vậy! Thưa Gia chủ, cho đến khi nào, các nữ đệ tử gia chủ mặc áo trắng của Thế Tôn còn giữ Giới Luật một cách đầy đủ, tôi là một trong những người ấy. Nếu ai có nghi ngờ hay phân vân, hiện nay, Thế Tôn đang ở giữa dân chúng Bhagga, tại núi Cá Sấu, rừng Bhesakàla, vườn Lộc Uyển, người ấy hãy đi đến Thế Tôn và hỏi. Do vậy, thưa Gia chủ, chớ có mệnh chung với tâm còn mong cầu ái luyến! Ðau khổ, thưa Gia chủ, là người khi mệnh chung tâm còn mong cầu ái luyến. Thế Tôn quở trách người khi mệnh chung tâm còn mong cầu ái luyến.”
 
(5) Ông nghĩ rằng tôi sẽ không tu tập thiền định. Không, tôi vẫn tiếp tục tu tập thiền định.
“Thưa Gia chủ, Gia” chủ có thể suy nghĩ như sau: "Nữ gia chủ, mẹ của Nakula không có chứng được nội tâm tịnh chỉ". Thưa Gia chủ, chớ có suy nghĩ như vậy! Thưa Gia chủ, cho đến khi nào, các nữ đệ tử gia chủ mặc áo trắng của Thế Tôn còn chứng được nội tâm tịnh chỉ, tôi sẽ là một trong những vị ấy. Nếu ai có nghi ngờ hay phân vân, hiện nay Thế Tôn đang ở giữa dân chúng Bhagga, tại núi Cá Sấu, rừng Bhesakàla, vườn Lộc Uyển, người ấy hãy đi đến Thế Tôn và hỏi. Do vậy, thưa Gia chủ, chớ có mệnh chung với tâm còn mong cầu ái luyến! Ðau khổ, thưa Gia chủ, là người khi mệnh chung, tâm còn mong cầu ái luyến. Thế Tôn quở trách người khi mệnh chung tâm còn mong cầu ái luyến.”
 
(6) Ông nghi ngờ không biết khi ông đi rồi tôi có còn còn là một cư sĩ tín tâm bất thối bất động (không còn hoang mang nghi hoặc) nơi Tam Bảo hay không. Ông yên tâm, tôi sẽ không thối đọa, suy giảm niềm tin nơi Tam Bảo.
“Thưa Gia chủ, Gia chủ có thể suy nghĩ như sau: "Nữ gia chủ, mẹ của Nakula, trong Pháp và Luật này không đạt được thể nhập, không đạt được an trú, không đạt được thoải mái, không vượt khỏi nghi hoặc, không rời được do dự, không đạt được vô úy, còn phải nhờ người khác sống trong lời dạy đức Bổn Sư". Thưa Gia chủ, chớ có suy nghĩ như vậy! Thưa Gia chủ, cho đến khi nào, các nữ đệ tử gia chủ mặc áo trắng của Thế Tôn, trong Pháp và Luật này đạt được thể nhập, đạt được an trú, đạt được thoải mái, vượt khỏi nghi hoặc, rời được do dự, đạt được vô úy, không phải nhờ người khác sống trong lời dạy đức Bổn Sư, tôi sẽ là một trong những người ấy”
Sau khi bà mẹ của Nakula nói xong tất cả 6 điều này thì ông Nakulapita lập tức hết bệnh. Sau khi hết bệnh ông vào thưa với đức Phật. Đức Phật dạy rằng ông rất may mắn khi có được người vợ như vậy. Và Ngài xác định cho ông chồng rằng:
-Nakulapita phải biết những điều mà vợ của ông nói hoàn toàn đúng sự thật như vậy. Chính vì đó là những sự thật nên vợ ông đã thực hiện thành tựu viên mãn lời chân ngôn của mình.
Có được một bà vợ đức hạnh mà còn biết độc chiêu này thì ông Nakulapita quả là đại phước. Mình đọc bài kinh tưởng bà chỉ an ủi ông. Nhưng không, bà đang nói ra sự thật mà những sự thật này có hai nội dung, một là xác chứng nội dung tu hành, tu chứng; thứ hai là trong lúc bà nói như vậy bà có cái chủ ý: “Tôi đang nói sự thật. Với sự thật này, nếu không bị đoạn nghiệp thì chồng tôi sẽ ok.” Do sức mạnh gia trì của một vị thánh nhân cư sĩ cộng với bản thân ông Nakulapita không hề kém cạnh bà vợ và cộng với điều kiện ông không bị chướng nghiệp, đoạn nghiệp quá khứ nên ông Nakulapita đã bình phục. Nói chung, sức mạnh gia trì từ người trao và từ người nhận cộng với chuyện không do trọng nghiệp tác động; ba yếu tố này mới khiến cho buổi cầu an ấy thành tựu viên mãn
Buổi cầu an, buổi chú nguyện cho bất cứ ai chỉ được thành tựu với 3 điều kiện: (1) sức gia trì của người trao; (2) đức hạnh của người nhận; (3) không có sự can thiệp của trọng nghiệp quá khứ.
Mình mời ông sư về cầu an, thành công hay không thì phụ thuộc vào người tụng có đức hạnh hay không, và khi tụng thì có tập trung, có niềm tin hay không. Còn nếu như người đó đọc mà không hiểu, không có niềm vui niềm hoan hỷ khi đọc tụng cũng không được. Và nhất là không có sự can thiệp của trọng nghiệp. Nếu có sự can thiệp của trọng nghiệp thì trời cứu cũng không được.
Bài kinh này mà đọc phớt qua thì chỉ là lời an ủi trấn an của một bà vợ dành cho ông chồng cận tử. Ông chồng sau đó may mắn hết bệnh rồi đi hầu Phật. Nhưng đọc kinh như vậy thì nghèo quá. Nội dung bài kinh này nói đến sự hành trì tu chứng của một đệ tử Phật, và có tác dụng, hiệu quả ý nghĩa của một bài cầu an. Cầu an có hai cách, dùng tín tâm của mình để suy tưởng suy niệm đến một đối tượng ngoại tại hoặc vận dụng một sự thật nào đó ở tự thân mình và phát nguyện chân ngôn. Chân ngôn này không nhất thiết phải từ một người uy lực ghê gớm.
Ở đây có chuyện hơi phong thần một chút, nhưng lỡ thì kể bà con nghe luôn. Bà con hoàn toàn có thể không tin, nhưng riêng tôi thì tôi tâm đắc câu chuyện này. Tôi tâm đắc không phải vì câu chuyện này huyền hoặc nhưng tôi tin rằng trong đời này nếu mình sống chí tâm chí thành như Trung Hoa có câu “Chí thành tất thông linh”, khi mình dốc sức dốc lòng tập trung thì cũng chiêu cảm được một đối tượng bề trên xa thẳm nào đó trên cao. Trong kinh kể một lần đó vua A Dục đi cùng một đám lính đông rần rần. Ngang bờ sông thì ông cùng quân lính ngừng lại nghỉ ngơi. Ông thấy nước sông chảy xiết cuồn cuộn, ông nói với lính hầu, con sông đang chảy như thế này đâu có một cái lực nào có thể cản được. Ông vừa nói xong thì thấy một chuyện rất là lạ, đó là dòng chảy đảo chiều. Bọt nước tung tóe như thể bị một lực cản nào đó, và dòng chảy bỗng chảy ngược lên trở lại. Ông dụi mắt, chắc là chiêm bao hay ma phá, chứ không thể nào lạ lùng như thế này. Nguyên đám lính đông đúc cũng thấy rõ ràng hiện tượng đó. Vua nói, chắc chắn có những vị tuy hành đắc đạo ẩn mình nơi đây. Vua kêu lính đi tìm. Ngày xưa lính đi bộ, làm gì có drone hay trực thăng như bây giờ. Lính chạy đi tìm rồi báo:
-Thưa bệ hạ, không thấy ai tu hành hết, chỉ thấy có đứa này thôi. Thấy rồi hỏi chuyện nó mà chúng thần cũng không dám dắt nó về, sợ làm bẩn mắt ngài.
Vua hỏi: Làm gì mà bẩn mắt ta? Lính nói, cô này cái thân phận cũng bầy hầy bê bối bề bộn, cổ là gái điếm. Vua hỏi cô gái:
-Nãy giờ ngươi ở đâu?
-Dạ tiện dân ngồi bên bờ sông nhìn nước chảy.
-Ngươi có thấy nước chảy băng băng không?
-Dạ thấy.
-Khi nước chảy ngược như vậy ngươi có biết không?
-Dạ biết, biết rất rõ, do chính tiện dân đã làm.
Vua hỏi:
- Nàng làm bằng cách nào với thân phận nữ nhi như vậy? Ta là một đại đế mà nhìn dòng chảy đó còn sợ, trong khi nàng là một cô gái chân yếu tay mềm!
-Dạ lúc đó nhìn dòng chảy đó tiện dân cũng sợ lắm, nhưng tiện dân nghe mấy ông thầy tu nói mình có thể chí thành tất thông linh.
Trong kinh nói cô này cũng có phước lành nhiều đời. Chẳng qua sa cơ vô nghiệp xấu nhất thời phải mang thân gái hèn mọn mua vui cho thiên hạ chứ cổ cũng là người nội công thâm hậu. Cổ nói lúc đó cổ chú nguyện như thế này:
“Tôi 1 đời mua vui cho thiên hạ, thiên hạ lấy tôi để giải tỏa bức xúc của bản thân. Tôi sống bằng sự lương thiện khó tin của tôi. Tôi chỉ lấy tiền sòng phẳng của đàn ông mà sống. Không lừa đảo ai hết. Tiền trao cháo múc, trao bao nhiêu múc bấy nhiêu (đưa nhiều múc đầy, đưa ít múc lưng). Đây là lời chân thật của tôi, nếu tôi nói dối thì thôi, còn nếu tôi nói thiệt thì xin cho sức mạnh của sự chân thành ấy khiến cho dòng sông này chảy ngược để tôi xác chứng một điều lời của các vị tu hành ấy là thật.”
Nàng vừa khấn xong thì dòng sông nước dựng lên. Nước bắn tung bọt trắng xóa và đảo dòng chảy ngược. Ngẫu nhiên lúc ấy vua A Dục cũng đang ngồi bên bờ sông, cũng quan sát dòng chảy kinh khủng, cũng có suy nghĩ ấy. Phía trên vua một tí là người con gái bán phấn buôn hương và không ngờ nàng tận dụng được câu nói “chí thành tất thông linh” và đã làm được chuyện đó. Trong room này quí vị không tin chứ riêng tôi, tôi nói nhỏ vào tai những người có tí niềm tin, trong lúc khẩn cấp ngặt nghèo hãy dùng phương thức này như tôi đã từng dùng. Tôi khấn, “phiền não con đầy dẫy, nhưng con đắp lá y này, tính ngay thời điểm này với mục đích của con là cầu giải thoát, không có mục đích khác; nếu con sai trái thì kể như con không được gì, nhưng nếu đúng là sự thật thì xin cho tai nạn này qua đi, hoặc xin cho ý nguyện thành tựu.” Phải lựa cái gì mình tin đó. Như trong kinh kể có vụ này mới động trời nè, Bồ Tát Thích Ca Mâu Ni có một kiếp đó sinh ra trong một gia đình nghèo khó lắm. Ngài thấy hình như làm thầy tu thì dễ sống, khỏi động tay động chân, khỏi đổ mổ hôi, xót con mắt. Cho nên ngài mới tự tìm mấy cái áo rằn ri da cọp, rồi đeo chuỗi, đeo mấy cái sọ chim, mấy cái hồ lô...,làm nguyên một chùm. Rồi ngài tìm một chỗ nào khuất khuất nhưng trong tầm mắt của người ta để ngồi. Suốt 55 năm trời ngài sống kiểu lừa đảo như vậy đó. Lúc đó ngài đã là bồ tát được thọ ký rồi. Nhưng dòng luân hồi mà! Chó heo còn làm được, địa ngục còn xuống được, nói gì là làm người lừa đảo. Có kiếp ngài làm một anh chàng đệ nhất sở khanh, không giết người nhưng ăn rồi là lừa tình lừa tiền của phụ nữ; làm tan nát bao nhiêu trái tim của phụ nữ. Có lúc ngài làm võ sĩ đánh đá người ta hộc máu mồm, có kiếp ngài làm thầy tu giả mạo. Đọc những điều đó không phải để mình khinh mà để mình nể ngài. Khi quỳ dưới chân của Đức Phật Nhiên Đăng (Dīpankara) là ngài đã biết rồi, Phật Nhiên Đăng nói: Ngươi sẽ trải qua 4 a-tăng-kỳ và 100.000 đại kiếp nữa sẽ thành vị Chánh Đẳng Chánh Giác có hồng danh là Gotama cũng gọi là Sakyamuni --Thích Ca Mâu Ni -- giống như Ta bây giờ, cũng có 32 tướng tốt 80 tướng phụ, cũng có 6 Như Lai biệt trí, 18 Bất cộng pháp y như Như Lai và chư Phật ba đời mười phương. Khi nghe tuyên bố như vậy ngài hiểu ngay một chuyện, rồi đây kể từ hôm nay con đường về địa ngục của ta đang rộng mở. Ngài biết rõ. Trong Chú giải có nói rõ chỗ đó, Bồ tát được thọ ký là không được sợ địa ngục. Không phải không sợ nghĩa là làm bậy, mà biết rằng đường dài thì khó tránh chuyện sa cơ. “Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn” là chỗ đó. Đường dài quá mà làm sao tránh đạp gai, đường dài sao tránh đạp phân, đường dài sao tránh được bụi bặm, nắng gió mưa sương. Khó lắm. Cho nên Chú giải nói rõ khi được thọ ký thì Bồ tát sẵn lòng dấn thân vào các tầng địa ngục. Ngay lúc quỳ dưới chân đức Phật Nhiên Đăng nghe thọ ký như vậy ngài có cảm giác là ngày mai ngài thành, nhưng lập tức ngài hiểu ra hai chuyện, đó là, chuyện gì mình phải làm, và những chông gai nào mình phải đối mặt.
Đọc cái đó mới thương Ngài. Bây giờ đi chùa khi đến trước tượng Phật, quí vị không nên đi mà chỉ có lết thôi. Lết xuống mà hôn chân tượng Phật ba ngày ba đêm còn chưa đủ hết cái ân tình của Ngài để lại cho mình. Lết chớ không phải đi nghen, bò bằng cái ngực, bằng đầu gối, bằng cùi chỏ. Ba ngày lết để lạy Phật vẫn chưa hết cái ơn Ngài độ cho mình. Ngài biết chông gai mà vẫn đi mới thương. Chứ ngay lúc đó Ngài chỉ cần chuyển nguyện “giác ngộ ngay lúc này” là ngài đắc Lục thông, Tam minh và 4 Trí vô ngại cách đây 4 a-tăng-kỳ và 100.000 ngàn đại kiếp rồi. Ấy vậy mà vì chúng ta Ngài lê la trong cõi luân hồi để rồi trải qua bao nhiêu kiếp sống. Lúc thì làm bậy, lúc thì chịu quả khổ. Chẳng hạn như cái kiếp mà tôi sắp kể đây, ngài làm tà sư ngoại đạo 55 lăm năm trời lừa đời dối thế để sống. Và ngài có một cặp vợ chồng đệ tử thương quý ngài vô cùng. Thỉnh thoảng họ đến thăm viếng Ngài. Bữa đó hai vợ chồng đến hầu chuyện ngài có dắt theo đứa con. Đứa con thì chạy lăng xăng quanh đó chơi trong khi ba mẹ nó hầu chuyện ngài và bị rắn cắn. Khi nghe đứa con đau quá la lên hai vợ chồng nhào ra bồng lên thì nó đã tím tái, mắt đứng tròng rồi. Hai vợ chồng tin ngài lắm, họ đâu biết ngài tào lao. Hai vợ chồng bồng đứa con đến trước mặt ngài và quỳ xuống:
-Sư phụ, sư phụ, xin cứu con của đệ tử.
Trong kinh nói lúc đó Ngài giống như con voi bị sa lầy khi nghe tiếng trống trận liền bật dậy. Quý vị phải coi kinh cho cái đầu bớt đơ, đọc chỗ đó mới thấy đã, mới thấy thương Phật quý Phật, thấy yêu chánh pháp. Trong kinh nói Ngài như con voi ngủ quên dưới đầm lầy, khi nghe tiếng trống trận liền bật dậy. Với sức mạnh của một con voi khi bật dậy thì không còn là con voi ngủ quên trong đống lầy nữa. Ngài cũng vậy, khi nhìn thấy hai vợ chồng này bồng xác con quỳ trước mặt “Sư phụ ơi cứu con đệ tử”, ngài nghĩ liền: Trách nhiệm của ta là đại bi. Mà bây giờ ta tu hành tào lao bí đao thế này thì ta cứu cái nỗi gì. Với cái huệ căn cố hữu của một vị Bồ tát đại sĩ ngài nhớ ra một chuyện. Ngài bồng đứa bé trên tay và khấn. Nghe ngài khấn quý vị không thể nín cười được, cười mà ứa lệ đó:
-Năm mươi lăm năm qua ta sống lừa đời dối thế. Ta biết rất rõ là mình tào lao, chẳng qua là ta không có cách nào khác để lựa chọn, mà ta biết rất rõ là ta lừa đời, dối thế. Đó là một sự thật. Mong với sự thật này, nếu bổn mạng đứa bé còn được sống trên đời thì xin với chút hơi tàn này sẽ giúp cho nó được hồi sinh.
Ngài vừa khấn xong thì nọc tan, đứa bé cựa mình xuất hạn, nôn mửa và bật khóc. Hai vợ chồng xoa bóp nó. Ngài hái một ít thuốc nam mà ngài biết đưa cho họ nhai đắp cho vô chỗ rắn cắn đứa bé. Đứa bé thoát chết bình an vô sự, sống đến trăm tuổi.
Quí vị thấy không, còn mình thì sao? Mình hèn lắm, một khi mình đã tồi rồi mình không dám nhận quí vị biết không, nên cả đời không biết chân ngôn là cái gì hết.
Kinh Nakulapitusutta _ Tăng Chi Bộ Kinh
#NhậtKýChépBằngKinh_T19
#SưGiácNguyên (giảng)

 

Monday, March 7, 2022

Ghét và Thương

 

" Mình thầm mong một cơn gió mát , thầm mong cho cái tiếng chuông của giờ xả thiền thì sẽ thấy nó dài đăng đẳng nó không chịu tới , trong khi cái gì mình mong mình muốn, mình trông mình đợi thì một là nó lâu tới mà nó tới rồi thì nó lại rất là mau đi cho nên Thương Thích và Ghét Sợ nó là một cặp trời sinh , nhớ nha . Thì đây là cái điều mà trong kinh Đức Phật đã dạy như vậy , hễ đối với người nào mà chấm dứt dục ái thì người đó không còn Sân mà cái người nào không còn Sân nữa thì người đó dứt khoát không có còn dục ái bởi vì Dục ái và Sân nó là một cặp .

Khi Đắc tới Tứ Thiền rồi thì hành giả sẽ không còn Khổ và Lạc nữa vì sao?
Vì Khổ và Lạc là một cặp
Ghét với Thương là một cặp
Dục ái và Sân là một cặp
Bất mãn và Đam mê là một cặp
Vui với Buồn nó là một cặp
Thương với Ghét nó là một cặp
Cho nên hễ không còn Thương thích Đam mê thì nó cũng không còn Bất mãn trốn chạy đây là một cặp.
Hễ người nào mà mình thấy Sân nhiều thì mình phải hiểu ngầm là người này có nhiều cái đam mê, có thể trước mắt mình họ là người rất là giản dị nhưng mà trong tận đáy sâu tâm cảm của họ có những đam mê, có những trông đợi gì đó cho nên họ mới có bất mãn này nọ bởi vì họ trông đợi cái gì đó mà không được ví dụ nha : có những người họ gặp chút xíu dơ thôi họ chịu không nổi bởi vì sao? vì họ luôn luôn trông đợi cái sạch , có những người họ kỹ đến mức mà suốt ngày cái mặt của họ như là cái nùi dẻ vậy đó là tại vì họ cứ thấy cái này dơ cái kia dơ một chút xíu bụi thôi họ chịu không nổi , một chút xíu giọt nước dính trên bàn họ chịu không nổi ,một chút xíu bụi, một chút xíu váy bẩn trên vải , trên tường họ nhìn họ khó chịu vì sao? vì họ đã có một cái niềm trông đợi, chờ mong cái sự sạch sẽ quá nhiều đi, có những người một chút xíu tiếng động cũng làm cho họ khó chịu bởi vì họ trông đợi , chờ mong cái sự yên tĩnh quá nhiều đi, và khi mà mình có cái lòng trông đợi cái gi đó quá nhiều đó thì mình sẽ thường trực sống trong cái bất mãn khi mà không có được nó . Cho nên đây là những điều mà chúng tôi dựa vào đó để mà tin Phật dù chúng tôi chưa có thần thông , chứ không phải chúng tôi là người cuồng tín chưa thấy đã tin thì không phải, chúng tôi dựa vào những cái này chúng tôi tin Phật nói đúng. "
Chép lại lời giảng Sư Giác Nguyên ( Sư Toại Khanh) giảng Kinh Ba Lê ngày 17/10/2016